Hiển thị các bài đăng có nhãn marketing. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn marketing. Hiển thị tất cả bài đăng

12 tháng 7, 2014

Sony “tụt dốc” hay cơn khủng hoảng của người Nhật

Rất nhiều đại gia công nghệ Nhật Bản đang lao đao, nhưng có lẽ, tình cảnh khốn khó của Sony là tấm gương phản chiếu rõ nhất đà thoái trào của một trong những nền công nghiệp công nghệ mạnh nhất thế giới.

Sony

Một nguyên nhân quan trọng khiến cho Sony từng bước lún sâu vào khủng hoảng chính là nỗi ám ảnh của người Nhật về việc "Phải làm theo cách của người Nhật", kể cả khi cách đó là sai lầm đi chăng nữa.

Thời kỳ đỉnh cao huy hoàng của ngành công nghệ và sản xuất của Nhật là những năm 1983 – 1993. Khu Akihabara lúc nào cũng đông đúc, sầm uất và thể hiện một diện mạo giống như "Thánh địa Mecca" của đồ điện tử. Quá dễ để nhận ra chìa khóa thành công của những nhãn hiệu như Sony và Panasonic: Họ không chỉ thiết kế ra những sản phẩm ăn khách mà còn rất xuất sắc trong khâu sản xuất. Nói cách khác, các sản phẩm điện tử của Nhật là một tổng thể hoàn hảo của thiết kế thông minh và chất lượng sản xuất.

Thế nhưng theo giới phân tích, chính những mầm mống của sự thoái trào ngày nay đã manh nha xuất hiện ngay từ ngày ấy:

Mắc kẹt với sự nâng cấp thay vì sáng tạo từ đầu

Sony

Người Nhật tiết kiệm và họ quá chú trọng đến số tiền đầu tư mà mình đã bỏ ra. Tư tưởng kinh doanh đó đã bóp nghẹt những công ty nhỏ, dù cho họ có đang ấp ủ những ý tưởng đột phá, mở ra cả một thị trường/hạng mục mới như iPhone và iPad đi chăng nữa (nên nhớ rằng trước khi bày bán iPhone, Apple nhỏ hơn bây giờ rất nhiều). Hình thức đầu tư của người Nhật chuộng những cải tiến công nghệ định kỳ hơn là những công nghệ đi lên từ con số 0. Và điều đó càng thể hiện rõ hơn bao giờ hết trong bối cảnh hiện nay.

Sự ngạo mạn

Không phải là kiêu hãnh mà là một tâm thế có phần ngạo mạn. Các chuyên gia phương Tây từng phàn nàn rằng khi tiếp xúc với người Nhật thời những năm 93, họ nhận thấy người Nhật khá coi thường những hãng công nghệ mới nổi của Mỹ như Intel, Compaq, Dell, thậm chí cả Microsoft. "Họ tin rằng đó chỉ là những cái tên tí hon, không thể cạnh tranh nổi trên thị trường sản phẩm gia dụng với những gã khổng lồ như Sony, Toshiba, Hitachi và Panasonic", một chuyên gia kể lại.

Bỏ lỡ cuộc cách mạng PC

Cả Sony, Panasonic, Hitachi và hàng loạt hãng khác đều bị ám ảnh bởi việc chạy đua sản xuất những sản phẩm như máy nghe nhạc cầm tay và đầu đĩa video. Đấy là chưa kể TV analog. Nỗi ám ảnh đó lớn đến mức họ đã bỏ lỡ cuộc cách mạng số/ PC khơi mào tại Mỹ trong nửa cuối thập niên 80. Và rồi lịch sử lại lặp lại khi người Nhật tiếp tục ứng biến chậm chạp trước cuộc cách mạng số di động, khi bộ nhớ flash thay thế gần như các phương tiện lưu trữ khác.

Monozukuri, tức "sản xuất"

Đây giống như một tôn giáo tại Nhật. Tất nhiên, sản xuất là mắt xích quan trọng của bất cứ nền kinh tế nào. Thế nhưng đôi khi người Nhật sản xuất chỉ để… sản xuất. Bạn có thể sản xuất TV thường trong suốt một thời gian dài, phớt lờ thực tế hiển nhiên là TV LCD đang được bày bán rộng khắp tại các nước khác, rẻ hơn, ưu việt hơn. Sharp – đại gia sản xuất LCD một thời, giờ đây phải cầu viện Foxconn vì đã thua cuộc trong trận chiến sản xuất LCD. Trước sự nổi lên của Trung Quốc, Đài Loan và Hàn Quốc, người Nhật tỏ ra quá yếu đuối và không có sức kháng cự.

Phần mềm

Các công ty Nhật Bản chưa bao giờ thực sự nhập tâm về tầm quan trọng của phần mềm. Cũng như sự tích hợp nuột nà giữa phần cứng với phần mềm thân thiện với người dùng theo kiểu Apple hay IBM đã làm được. Thực tế này là một hệ quả của nỗi ám ảnh dành cho monozukuri. Người Nhật thực sự nghĩ rằng: phần mềm không quan trọng. Ăn thua nhau là ở phần cứng.

Tự cô lập mình

Không khó để nhận ra sự "độc đáo" của các sản phẩm Nhật. Không nơi nào mà sự phân biệt giữa sản phẩm "nội địa" và sản phẩm làm ra để xuất khẩu lại rõ rệt như ở Nhật. Cũng chính vì thế mà khi xuất ngoại, đồ điện tử Nhật không thể thiết lập được một hệ sinh thái hỗ trợ đa dạng và mạnh mẽ như của các đối thủ quốc tế.

Những năm 80, một người Nhật sẽ phải vò đầu bứt tai để nghĩ xem họ muốn mua một sản phẩm nào do người Mỹ làm ra hay không. Giờ đây, thật khó để chúng ta nghĩ được một sản phẩm nào của Sony khiến mình thật tâm thích thú. Nói cách khác, vận đã đổi và sao đã dời.

25 tháng 7, 2013

Sự trỗi dậy của truyền thông số đe dọa ngành PR



Sự trỗi dậy của truyền thông số đang đe dọa các hoạt động quan hệ công chúng (PR) theo kiểu truyền thống, chẳng hạn như việc phân phát các thông cáo báo chí hay đặt thời điểm công bố tin tức. Chính vì thế, ngành PR đang buộc phải tự đổi mới để có thể thích nghi và vượt lên trước.

Mạng Internet đang khiến bất kỳ ai cũng có thể truyền bá tin tức khắp thế giới gần như đồng thời, khiến các công ty và những người hoạt động trong ngành PR khó khăn hơn trong việc kiểm soát các dòng thông tin.

Ngành PR truyền thống đang phải tự thay đổi trước sự phổ biến của truyền thông số. (Ảnh: agencypost)

Phát biểu với nhật báo Today khi tới thăm Singapore, ông Pete Pedersen - CEO toàn cầu của Công ty tư vấn truyền thông Grayling nói: “Đã có thời người ta có thể buộc nhà báo phải tạm thời chưa công bố tin tức. Bạn nói giữ thông tin này lại và hầu hết họ sẽ làm thế, vì vậy việc công bố tin tức là có thể dự báo được. Song ngày nay hầu hết nhà báo tôi quen không còn làm như vậy nữa.”

“Ý tưởng về một thỏa thuận tạm thời chưa công bố thông tin đã cũ rồi. Tại sao như vậy? Bởi luôn có những người không phải là nhà báo chuyên nghiệp cũng theo đuổi cùng một thông tin đó,” ông Pedersen nói.

Hệ quả là những người hoạt động trong ngành PR sẽ phải nỗ lực nhiều hơn để nắm bắt ý tưởng thích hợp với cách thức tiêu thụ thông tin mới này. Từ những gì từng được dùng cho một hoạt động nhỏ, giờ đây các nhà PR và quảng cáo sẽ phải cân nhắc tác động toàn cầu của sự kiện đó.

“Bạn có thể tổ chức một sự kiện tin tức ở Singapore hay Hong Kong hoặc New York và bạn có thể giữ kín nó hoàn toàn, chỉ ở mức địa phương. Song giờ đây không có sự kiện nào mang tính địa phương nữa, mọi thứ đã trở thành một câu chuyện toàn cầu. Với tư cách là những nhà marketing và truyền tin, chúng ta không chỉ nghĩ rằng tin tức này sẽ đến với người dân ở đây thế nào, mà là nó sẽ đến với những ai sống cách đây 9.000 dặm ra sao, bởi tốc độ truyền tin bây giờ nhanh như thế đó,” ông Pedersen nói.

Hiện Grayling đang có hơn 1.000 nhân viên hoạt động tại hơn 40 quốc gia tại Mỹ, châu Á-Thái Bình Dương, Tây và Đông Âu cũng như châu Phi. Công ty này, đặt trụ sở tại Anh và là một phần của tập đoàn truyền thông quốc tế Huntsworth PLC, đã giành được rất nhiều giải thưởng danh giá kể từ khi được thành lập vào năm 1981.

Với 20 năm kinh nghiệm trong ngành PR, ông Pedersen lưu ý rằng các kỹ năng trong ngành này đã được mở rộng theo năm tháng. Bên cạnh khả năng viết tốt và hiểu biết trong một vấn đề đặc thù nhất định, những cá nhân có khả năng phân tích dữ liệu và trí tưởng tượng tốt đang ngày càng được được các công ty PR ưa thích tuyển mộ.

“Thực tế là ngày nay chúng ta đang tạo ra nhiều thông tin hơn so với hai hoặc ba năm trước. Nếu chúng ta đủ hiểu biết về việc thu thập và phân tích dữ liệu đó thế nào, chúng ta có thể biết được rất nhiều về các phản ứng, về thế giới quanh ta về nhiều khía cạnh. Tôi nghĩ rằng các nhà marketing bắt đầu thật sự hiểu ra cách sử dụng quyền năng đó, và nó ngày trở nên hiệu quả hơn,” ông nói.

Tuy nhiên, sự bùng nổ của truyền thông số cũng mang đến không ít vấn đề, như sự riêng tư và minh bạch trong sử dụng thông tin. Đây là một chủ đề đã được đem ra tranh luận rất nhiều sau khi hàng loạt chương trình do thám quy mô lớn tuyệt mật tại Mỹ bị cựu nhân viên Cơ quan An ninh Quốc gia Mỹ Edward Snowden tiết lộ.

Sau vụ việc này, nhiều người đã lên tiếng kêu gọi đưa ra các đạo luật bảo vệ thông tin chặt chẽ hơn, yêu cầu các công ty Internet phải công tố chi tiết về những ai tiếp nhận thông tin cá nhân từ họ.

Ông Pedersen cho rằng những cuộc tranh luận như vậy đang khiến việc quản lý và khai thác truyền thông số gặp nhiều thách thức, song nó cũng “hấp dẫn” với ngành PR. Bởi với các nhà marketing và PR, sẽ rất thú vị khi họ có thể kiểm soát được lượng thông tin từ những người khác giúp mình có được. Và theo ông Pedersen, tất cả “mới chỉ bắt đầu”./.


Việt Hải/Singapore (Vietnam+)